Bài tập tình huống NMLH - Nhập Môn Luật Học UEL
Trường Đại học Kinh tế - Luật - UEL
Nhập Môn Luật Học
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Bài tập tình huống NMLH giúp sinh viên hiểu rõ các quan hệ pháp luật và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực luật học. Tài liệu này phù hợp cho sinh viên ngành luật tại UEL.
Nội dung trích xuất cho SEO
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ÔN TẬP CUỐI KỲ NMLH Bài 1: A và B là bạn thân. Vì không có laptop nên A mượn laptop của B để làm bài thuyết trình. Trước đó, A mượn C số tiền 4 triệu đồng. Đến hạn trả nợ nhưng A không có tiền trả nên nảy sinh ý định bán laptop của B để trả nợ cho C. A đem laptop đến tiệm của D bán với giá 6 triệu đồng, A trả cho C 4 triệu tiền nợ, 2 triệu còn lại A dùng chi
Xem thêm nội dung trích xuất
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ÔN TẬP CUỐI KỲ NMLH
Bài 1:
A và B là bạn thân. Vì không có laptop nên A mượn laptop của B để làm bài thuyết trình.
Trước đó, A mượn C số tiền 4 triệu đồng. Đến hạn trả nợ nhưng A không có tiền trả nên nảy
sinh ý định bán laptop của B để trả nợ cho C. A đem laptop đến tiệm của D bán với giá 6
triệu đồng, A trả cho C 4 triệu tiền nợ, 2 triệu còn lại A dùng chi tiêu cá nhân. Sau đó, B biết
A đã bán laptop của mình nên tố cáo cơ quan công an. Cuối cùng, A bị công an bắt. Tòa án
nhân dân huyện X đã xét xử tuyên phạt A 2 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản.
Anh chị hãy trả lời các câu hỏi sau:
a. Xác định các quan hệ pháp luật phát sinh trong tình huống trên và nêu sự kiện pháp lý làm
phát sinh quan hệ đó. Đồng thời, lựa chọn 1 quan hệ pháp luật để phân tích cơ cấu của các
quan hệ pháp luật đó (chủ thể, khách thể, nội dung). (2 điểm)
b. Xác định vi phạm pháp luật trong tình huống trên và phân tích các yếu tố cấu thành của vi
phạm pháp luật đó. (2 điểm)
c. Nêu rõ hoạt động áp dụng pháp luật được thực hiện trong tình huống trên. (1 điểm)
BÀI GIẢI:
a. Các quan hệ pháp luật
A và C
A và D
A và cơ quan công an
A và toà án
B và cơ quan công an
Phân tích: Quan hệ pháp luật giữa A và D: là quan hệ mua bán
- Chủ thể: A và D
- Khách thể: A muốn bán laptop để lấy tiền trả nợ cho C và tiền dư thì sẽ lấy để chi tiêu
cá nhân. D thì muốn mua laptop mà A lấy của B đem bán.
Nội dung:
*Quyền và nghĩa vụ của A:
- Quyền: A có quyền bán tài sản (laptop) theo quy định của pháp luật
- Nghĩa vụ: A phải giao tài sản (laptop) cho D sau khi bán.
*Quyền và nghĩa vụ của D:
- Quyền: D có quyền mua tài sản (laptop) theo quy định của pháp luật
- Nghĩa vụ: D phải trả tiền cho A sau khi mua.
b. Vi phạm pháp luật: A lấy laptop của B bán cho D để có tiền trả nợ cho C.
- Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật:
+Chủ thể: A và B
+Khách thể: A bán tài sản (laptop) của B cho D là vi phạm pháp luật hình sự do có
biểu hiện lạm dụng tín nhiệm của B để chiếm đoạt tài sản. Từ đó lấy tiền trả nợ cho C.
+Mặt chủ quan: là lỗi cố ý trực tiếp của A vì A nhận thức rõ được hành vi của mình là
lấy laptop của người khác đem bán. Biết là sai nhưng A vẫn cố tình thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật để phục vụ cho mục đích cá nhân (trả nợ và chi tiêu).
+Mặt khách quan:
*Hành vi trái pháp luật: A lạm dụng tín nhiệm của B để chiếm đoạt laptop đem bán trả nợ
cho C là hành vi cố ý vi phạm pháp luật.
*Hậu quả: B mất tài sản (laptop) của mình gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của B.
*Gây mất an ninh trật tự, tạo ra hành vi xấu có thể lan truyền, ảnh hưởng tới tín nhiệm của
các chủ thể trong xã hội, gây hoang mang trong dư luận. Ảnh hưởng tới công tác quản lý xã
hội của nhà nước.
c. Hoạt động áp dụng pháp luật được thực hiện trong tình huống trên.
- “A bị công an bắt. Tòa án nhân dân huyện X đã xét xử tuyên phạt A 2 năm tù về tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.”
*Mục đích truy cứu trách nhiệm pháp lý: Bảo vệ quyền lợi cho chủ thể B, thực hiện xử lý vi
phạm pháp luật của A theo đúng quy định của pháp luật. Răn đe các chủ thể khác, khiến các
chủ thể đó phải từ bỏ hoặc kiềm chế về ý định trộm cắp tài sản.
*Căn cứ truy cứu
- Về cơ sở pháp lý: Hành vi A làm vi phạm quyền sở hữu tài sản theo Bộ luật dân sự
2015.
- Về cơ sở thực tiễn: A có hành vi lấy tài sản của bán cho D để có tiền trả nợ cho C,
giao dịch đã hoàn tất, D có được laptop còn A có tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân. A cố
tình vi phạm pháp luật. Chủ thể vi phạm là A. Khách thể của vi phạm pháp luật là
quyền sở hữu tài sản hợp pháp của B.
*Xét xử của toà án: Tòa án nhân dân huyện X đã xét xử tuyên phạt A 2 năm tù về tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Bài 2:
A sinh ngày 15.09.1970, nhận thức bình thường. Do mâu thuẫn cá nhân, vào lúc 22H00 ngày
15.09.2007 trên đường đi làm về, anh B đã bị anh A dùng gậy đánh thương tích với tỉ lệ
thương tích sức khỏe là 15%. Hành vi của anh A đã bị bắt giữ và xử lý trước pháp luật.
- Xác định vi phạm pháp luật của anh A ?
- Trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với anh A ?
- Phân tích cấu thành của vi phạm pháp luật trên?
BÀI GIẢI:
Cấu thành tội phạm tội "Cố ý gây thương tích" theo điều 104 BLHS trong trường hợp này
như sau:
1. Khách thể của tội phạm: Hành vi cố ý gây thương tích xâm phạm đến sức khoẻ, thân
thể của người khác, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và sức khoẻ của
con người.
2. Mặt khách quan của tội phạm:
- Hành vi khách quan: Là hành vi cố ý dùng gậy đánh người khác, gây tổn hại cho sức
khoẻ của người đó.
- Hậu quả: Gây thương tích (hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ) người khác 15%.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm: Hành vi dùng
gậy đánh là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn hại 15% sức khoẻ của người khác.
- Công cụ phạm tội: Chiếc gậy là công cụ phạm tội, nó có thể là "hung khí nguy hiểm"
quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 104 BLHS. Trong trường hợp này, A sẽ bị truy tố,
xét xử theo khoản 2 Điều 104 BLHS
3. Mặt chủ quan của tội phạm:
- Có thể là cố ý trực tiếp: A nhận thức rõ tính chất của hành vi dùng gậy đánh người là
nguy hiểm, hành vi đó có thể gây ra tổn hại cho sức khoẻ của B và A mong muốn gây
ra tổn hại cho sức khoẻ của B.
- Có thể là cố ý gián tiếp: A nhận thức rõ tính chất của hành vi dùng gậy đánh người là
nguy hiểm, hành vi đó có thể gây ra tổn hại cho sức khoẻ của B và A không mong
muốn gây ra tô hại cho sức khoẻ của B nhưng vì lí do nào đó mà A vẫn đánh, chấp
nhận hậu quả đó xảy ra.
- Cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp còn phụ thuộc vào lời khai, tính chất hành vi khách
quan, mức độ nguy hiểm của các vị trí bị đánh...
4. Chủ thể của tội phạm: A là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
chịu trách nhiệm về hành vi cố ý gây thương tích của mình.
* Nêu chiếc gậy là hung khí nguy hiểm (gậy to, nặng, có góc cạnh...có thể dễ dàng gây
thương tích) thì A sẽ bị khởi tố theo khoản 2 Điều 104 BLHS.
* Nếu chiếc gậy không bị coi là hung khí nguy hiểm, và hành vi của A không thuộc một
trong các trường hợp quy định thêm tại khoản 1 Điều 104 BLHS thì A chỉ bị khởi tố theo
khoản 1 Điều 104 BLHS, A chỉ bị khởi tố khi B có đơn yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng
khởi tố vụ án.
BÀI MẪU CỦA CÔ:
Anh MC là chủ một nhà hàng hải sản ven sông tại huyện ĐH, tỉnh BL. Do nhà hàng nằm
ngay sông nên anh đã xả trực tiếp nước thải của nhà hàng ra kênh rạch gần đó mà không
qua hệ thống xử lý nước thải. Trên cơ sở thanh tra, kiểm tra, UBND Huyện ĐH, tỉnh BL đã
tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu anh MC chấm dứt ngay hành vi xả
nước thải. Sau đó, 07 ngày UBND Huyện ĐH đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành
chính đối với hành vi xả thải chưa qua xử lý ra môi trường của anh MC, với mức phạt tiền là
7.500.000 đồng và biện pháp khắc phục hậu quả: đề nghị anh MC lắp đặt hệ thống xử lý
nước thải đạt quy chuẩn.
Xác định QHPL:
Đây là quan hệ pháp luật: hành chính
- Chủ thể: anh MC và UBND huyện
- Khách thể: xử lý vi phạm với hành vi xả thải chưa qua xử lý ra môi trường
- ND:
Anh MC
+ Nghĩa vụ: phạt 7.500.000 đồng và phải có biện pháp khắc phục hậu quả
+ Quyền: được thông báo về mức phạt, được giải trình
UBND
+ Nghĩa vụ: xử lý theo quy định, tôn trọng anh MC
+ Quyền: thanh tra kiểm tra, có quyền xét xử
- Sự kiện pháp lý: quyết định xử phạt (không còn xả thải chưa qua xử lý ra môi trường),
là quyết định hợp lý và hợp pháp
2. Xác định VPPL:
- Mặt khách quan: xả thải chưa qua xử lý ra môi trường, gây ô nhiễm môi trường →
Trái pháp luật
- Mặt chủ quan:
+ Lỗi cố ý trực tiếp
+ Mục đích: xử lý nước thải
- Khách thể: xâm phạm vppl về nguồn nước (môi trường)
- Chủ thể: anh MC
3. Xác định 1 hoạt động Áp dụng pháp luật:
- Áp dụng luật bảo vệ môi trường để xử lý việc xả nước thải ra môi trường của anh
MC.
Bài 3: S (19 tuổi, nhận thức bình thường) sang nhà người hàng xóm là ông M chơi. Lợi dụng
lúc ông M đang làm bếp không chú ý, S đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại iPhone trị giá 18
triệu đồng của ông M rồi mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Ông M phát hiện mất tài sản và báo
Công an. S bị bắt giữ ngay sau đó.
Yêu cầu:
1. Xác định vi phạm pháp luật của S và trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với S.
2. Phân tích các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật của S.
1. Loại vi phạm pháp luật & Trách nhiệm pháp lý
+ Vi phạm pháp luật: Vi phạm pháp luật Hình sự (Tội trộm cắp tài sản - Điều 173 BLHS).
+ Trách nhiệm pháp lý:
- Trách nhiệm hình sự: Chịu hình phạt theo Bộ luật Hình sự.
- Trách nhiệm dân sự: Trả lại tài sản hoặc bồi thường giá trị chiếc điện thoại cho ông
M.
2. Phân tích cấu thành vi phạm pháp luật
- Chủ thể: S (19 tuổi, đủ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự).
- Khách thể: Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của ông M.
- Mặt khách quan:
+ Hành vi: Lén lút dịch chuyển tài sản (điện thoại) ra khỏi sự quản lý của chủ sở
hữu
+ Hậu quả: Ông M bị mất tài sản trị giá 18 triệu đồng.
+ Mối quan hệ nhân quả: Hành vi lén lút của S trực tiếp gây ra thiệt hại về tài
sản cho ông M.
Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Động cơ: Muốn có tiền tiêu xài cá nhân.
Bài 4: Tình huống:
Do cần tiền trả nợ lô đề, H (25 tuổi) đưa ra thông tin giả với bạn học cũ là K rằng H có khả
năng mua hộ xe máy tay ga thanh lý từ cơ quan nhà nước với giá rẻ. Tin tưởng H, K đã
chuyển cho H số tiền 35 triệu đồng để nhờ mua xe. Sau khi nhận tiền, H cắt đứt liên lạc và
dùng toàn bộ số tiền trả nợ.
Yêu cầu:
1. Xác định quan hệ pháp luật phát sinh và sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ đó.
2. Phân tích cấu thành vi phạm pháp luật của H.
1. Quan hệ pháp luật & Sự kiện pháp lý
- Quan hệ pháp luật phát sinh:
+ Quan hệ pháp luật dân sự (giao dịch mua hộ xe/vay tiền) giữa H và K → Sự
kiện pháp lý: H hứa mua hộ xe và K giao 35 triệu đồng.
+ Quan hệ pháp luật hình sự giữa H và Nhà nước (Cơ quan tố tụng) → Sự kiện
pháp lý: Hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 35 triệu đồng của H.
- Quan hệ giữa H và các chủ nợ lô đề.
2. Cấu thành vi phạm pháp luật của H
- Vi phạm: Vi phạm pháp luật Hình sự (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Điều 174
BLHS).
- Chủ thể: H (25 tuổi, đầy đủ năng lực TNHS).
- Khách thể: Quyền sở hữu tài sản (35 triệu đồng) của K.
- Mặt khách quan:
+ Thủ đoạn gian dối: Đưa thông tin giả về việc mua xe thanh lý giá rẻ.
+ Hành vi chiếm đoạt: Nhận tiền rồi bỏ trốn, chiếm đoạt 35 triệu đồng.
+ Hậu quả: K bị thiệt hại 35 triệu đồng.
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích: Chiếm đoạt tài sản để trả nợ.
Bài 5: Tình huống:
B (sinh ngày 10/10/2009). Do mâu thuẫn trên mạng xã hội với anh T, vào ngày 20/10/2025, B
đem xăng đến đốt chiếc xe máy của anh T đang đậu trước nhà, gây thiệt hại tài sản trị giá 25
triệu đồng.
Yêu cầu:
1. Xác định B có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trên không? Vì sao?
2. Phân tích các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật của B.
1. Trách nhiệm hình sự của B
- Tính tuổi của B: Đến ngày 20/10/2025, B được 16 tuổi 10 ngày (Đã đủ 16 tuổi).
- Căn cứ pháp lý: Theo Điều 12 BLHS, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách
nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
- Kết luận: B phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178
BLHS) và trách nhiệm bồi thường dân sự.
SỐ TRANG
0 trang
ĐỊNH DẠNG
PDFLƯỢT THÍCH
0
NĂM PHÁT HÀNH
—
Chọn màu highlight
Ghi chú