Đề cương ôn tập Lịch sử đảng - Lịch sử Đảng Cộng sản VN FTU
Trường Đại học Ngoại Thương - FTU
Lịch sử Đảng Cộng sản VN
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Đề cương ôn tập Lịch sử Đảng Cộng sản VN tại FTU cung cấp kiến thức về giai đoạn 1975-2018, tập trung vào công cuộc đổi mới và xây dựng CNXH.
Nội dung trích xuất cho SEO
CHƯƠNG III: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CẢ NƯỚC QUÁ ĐỘ LÊN CNXH VÀ TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1975-1986) CÂU 1: Lãnh đạo cả nước xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc (1975-1986) Các bước đột phá trong chủ trương xây dựng CNXH (1979-1981) và (1985-1986) ❖ Giai đoạn 1979 - 1981: - Hội nghị Trung ương 6 được coi là bước đột phá đầu tiên đổi mới kinh tế với chủ trương khắc phục khuyết điểm sai lầ
Xem thêm nội dung trích xuất
CHƯƠNG III: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CẢ NƯỚC QUÁ ĐỘ LÊN CNXH VÀ TIẾN HÀNH CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI (1975-1986)
CÂU 1: Lãnh đạo cả nước xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc (1975-1986)
Các bước đột phá trong chủ trương xây dựng CNXH (1979-1981) và (1985-1986)
❖ Giai đoạn 1979 - 1981:
- Hội nghị Trung ương 6 được coi là bước đột phá đầu tiên đổi mới kinh tế với chủ trương khắc phục
khuyết điểm sai lầm trong quản lý kinh tế và cải tạo XHCN, phá bỏ những rào cản để cho “sản xuất bung
ra”.
- Trước đó, do duy trì quá lâu chế độ tập trung quan liêu bao cấp nên nước ta không tạo được động lực phát
triển kinh tế, kinh tế gặp nhiều khó khăn dù đã giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
- Sản xuất bung ra trên 3 vấn đề:
+ Khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, bộ phận của kinh tế tư nhân, cho phép người dân được
chăn nuôi trâu bò mà không bị cấm đoán như trước.
+ Trên lĩnh vực giao lưu trao đổi: tạo điều kiện thông thương trong từng vùng và giữa các vùng, bỏ chính
sách ngăn sông cấm chợ, phân phối giao lưu trao đổi hàng hóa không còn chỉ nằm trong tay nhà nước,
góp phần phát triển nền kinh tế hàng hóa.
+ Lĩnh vực ngoại thương: nhà nước có chính sách đột phá vào cơ chế nhà nước độc quyền ngoại thương.
Ngoài các doanh nghiệp nhà nước ra thì doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu của nhà nước (về mặt hàng,
số vốn,..) sẽ được chấp nhận trực tiếp kinh doanh buôn bán với bên ngoài, không còn bị cấm đoán giao
thương và chỉ buôn bán chủ yếu vơi slieen xô và các nước XHCN, chủ yếu nhập khẩu, ít xuất khẩu như
trước đây.
- Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 100-CT/TW (1-1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động
trong các hợp tác xã nông nghiệp. Người dân có một số quyền dù chưa tự chủ hòn toàn, điều này tạo đk
cho nông nghiệp khởi sắc và phát triển.
- Mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm, tiền thưởng
- Chính phủ ban hành Quyết định số 25-CP (1-1981) về quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự
chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh. Đây là bước đột phá về Công nghiệp với chủ trương 3 loại
kế hoạch
+ Kế hoạch 1: đầu vào và ra là của nhà nước, lãi nhà nước hưởng, lỗ nhà nước bù
+ Kế hoạch 2: ngoài nguồn vốn nhà nước, doanh nghiệp lấy nguồn vốn dự trữ của mình để sản xuất thêm
ra các mặt hàng và nhà nước sẽ mua các mặt hàng này theo giá thị trường => Doanh nghiệp có lãi
+ Kế hoạch 3: Làm ngoài giờ, doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ vầ đầu vào và ra của sản phẩm, nhà nước
không can thiệp => doanh nghiệp lãi nhiều hơn, ng ldong phấn khởi.
⇨ Bước tiến trong tư duy của Đảng, tạo đk cho doanh nghiệp có quyền chủ động trong sx kinh doanh,
tạo tiền đề để năm 87 nhà nước cởi trói hoàn toàn cho doanh nghiệp.
❖ Giai đoạn 1984 - 1986:
- Hội nghị Trung ương 6 (7-1984) chủ trương tập trung giải quyết một số vấn đề cấp bách về phân
phối lưu thông
- Hội nghị TW 8 khoá V (1985) đc coi là bước đột phá thứ 2 trong quá trình đổi mới KT của Đảng
Nội dung:
- Xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp trong giá. Trc đó có 2 giá là gia sdo nhà nước quy định và giá thị trường,
nay chỉ còn lại giá thị trường
- Nhà nước từng bước có tích lũy, xoá bỏ tình trạng mua thấp bán thấp bù lỗ, hiện cơ chế 1 giá, khắc phục
tình trạng thả nổi trong định giá và quản lý giá
- Thành lập ban cải cách giá lương tiền do Tố hữu phó thủ tướng và các nhà kinh tế tham gia. Đưa ra cải
cách về giá: giá đầu vào nhà nước bán cho doanh nghiệp tăng từ 11,5 đến 12,5 lần và nhà nước mua sản
phẩm vs giá thị trường, tổng tiền lưu thông cần phải có 120 tỷ mới thực hiện cải cách lương, tổng điều
chỉnh về tiền và tiến hành đổi tiền. Thực hiện trả lương bằng tiền thay vì hiện vật.
- Tuy nhiên trong quá trình thực hiện lại mắc những sai lầm trong cuộc điều chỉnh giá tiền lương. Sau thất
bại đổi tiền, cải cách bị vớ trận, cả nước bị lâm vào vòng xoáy lạm phát => Gây ra khủng hoảng KT trầm
trọng
- Hội nghị bộ chính trị khoá V (1986) đưa ra “Kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm
kinh tế” là bước đột phá thứ 3, đồng thời cx là bước quyết định cho sự ra đời trong đường lối đổi
mới của Đảng
CÂU 2: Lãnh đạo công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế
(1986-2018)
❖ Đường lối đổi mới được nêu lên tại Đại hội VI (T12/1986)
Bối cảnh lịch sử:
CM KHKT đang ptrn mạnh, xu thế đối thoại đang dần thay thế xu thế đối đầu trên TG. Liên xô và các
nước XHCN đang đều đang tiến hành cải tổ, xd XHCN.
- VN bị các thế lực thù địch bao vây, cấm vận và đang trải qua tình trạng khủng hoảng KT. Lương thực
thực phẩm và hàng tiêu dùng đều bị khan hiếm. lạm phát cao, các hiện tượng vi phạm pháp luật ngày
càng tăng,
⇨ Đổi mới trở thành yêu cầu khách quan, đòi hỏi bức thiết của đất nước
Đại hội rút ra bốn bài học KN:
-
-
1. Trong toàn bộ hđ của mình, Đảng phải quán triệt tư tg “lấy dân làm gốc”
- CSLL: Vai trò của nhân dân trong lịch sử vô cùng quan trọng, thời pk triều đại nào vì nhân dân đều
hưng thịnh. Cg lĩnh CT đầu tiên, luận cương tháng 10 đều đã khẳng định: cần phải phát huy sức mạnh
khối đại đoàn kết nhân dân. HCM cũng đã từng khẳng định vai trò của nhân dân “Gốc có vững cây mới
bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Từ khi đảng ra đời cx đã rất quan tâm đến nhân dân, kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ nhờ huy động sức mạnh toàn dân và sự hy sinh của nhân dân mà cũng giành
thắng lợi.
-CSTT: Trong cách mạng ta làm tốt việc lấy dân làm gốc nhưng khi giành được độc lập có nhưungx nơi
những lúc tư tưởng lấy dân làm gốc vẫn chưa được quán triệt trong đội ngũ đảng viên, chưa đem lại lợi
ích cho nhân dân, không thực hiện tốt câu nói của HCM: ‘Nước độc lập nhưng dân không tự do hạnh
phúc thì độc lập không có nghĩa lý gì”.
- Thực trạng kinh nghiệm trong gdd 76-85?: Đảng có làm tốt và làm chưa tốt do một số nơi một số lúc
cán bộ vẫn đứng trên nhân dân, chưa quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân, chưa
đem lại lợi ích cho nhân dân.
Vận dụng: phải củng cố vững chắc lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết
toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật
thiết với Nhân dân, được lòng dân. Muốn được lòng dân, có lòng dân thì toàn bộ hoạt động của Đảng
cũng như mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng
chính đáng của Nhân dân, nhằm vào mục đích vì lợi ích của Nhân dân. Thực hiện đầy đủ, có chất lượng
quyền và nghĩa vụ công dân, đặc biệt không chỉ là tôn trọng mà phải tạo cơ chế để dân phát huy đầy đủ,
có hiệu quả quyền làm chủ của mình. Tập trung giải quyết bức xúc, nguyện vọng chính đáng của Nhân
dân liên quan đến lợi ích, đời sống, việc làm; chống tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm những tiêu cực…
Có như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ góp phần tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực và tiến bộ trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước hiện thực hoá mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn và kiên định.
2. Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
- CSLL và thực tiễn: Những quy luật khách quan(mâu thuẫn, lượng chất, CSHT quyết định KTTT) chi
phối sự phát triển của đất nước trong từng giai đoạn. Trong những năm lãnh đạo cuộc CM DTDCND,
Đảng rất quan tâm tới vấn đề này, hành động theo QLKQ trong cuộc dấu tranh giải phóng dân tộc.
- Thực trạng năm 76-85: Đảng chưa xuất phát từ thực tiễn, chạy theo nguyện vọng chủ quan duy ý chí,
không tính đến có làm được trong thực tiễn hay k
Thứ nhất, sự tác động lẫn nhau giữa đổi mới, hội nhập và phát triển bắt đầu từ đổi mới, do tình
hình mới, nhiệm vụ mới đặt ra, cả những vấn đề cụ thể, bức xúc, cấp bách trước mắt lẫn
những vấn đề sâu xa, chiến lược lâu dài. Đổi mới là tất yếu của phát triển. Đổi mới có nội dung
toàn diện gắn liền với dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống, có lực đẩy quan trọng là tư
tưởng giải phóng để khai thông, khai thác và phát huy mọi tiềm năng, mọi nguồn trữ năng, từ
vật chất đến tinh thần của xã hội, hướng tới phát triển, phát triển bền vững và hiện đại hoá đất
nước. Đổi mới là nhân tố nổi bật tác động tới hội nhập và phát triển. Đổi mới không chỉ là tiền
đề mà còn là điều kiện và động lực của hội nhập, của phát triển.
Trong bối cảnh của tình hình thế giới và đất nước hiện nay và những năm sắp tới, vấn đề
không chỉ đổi mới mà phải đổi mới toàn diện, đồng bộ với khâu đột phá là đổi mới tư duy.
Cũng như trước đây, vấn đề đặt ra hiện nay không phải chỉ có nhiệt tình, quyết tâm đổi mới là
đủ; có tầm nhìn, tư duy chiến lược, quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và
khát vọng phát triển và ý chí vươn tới một tương lai rạng rỡ là cần thiết. Nhưng đổi mới phải tôn
trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, từ những bài học tổng kết
kinh nghiệm, thực tiễn và nghiên cứu lý luận, hướng vào giải quyết những vấn đề do thực tiễn
đặt ra, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới. Đây là vấn đề có tính
nguyên tắc cần được quán triệt sâu sắc.
Thứ ba, phát triển là mục tiêu, định hướng cho đổi mới và hội nhập. Từ mục tiêu và định hướng
của phát triển mà tác động tới đổi mới và hội nhập. Mục tiêu ấy là “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Định hướng ấy là lý tưởng xã hội chủ nghĩa, làm cách mạng xã hội
chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam
Như vậy, một chiều kích của sự phát triển xã hội là sự phát triển nhân cách theo hướng hoàn
chỉnh và hoàn thiện; phát triển theo giá trị bất hủ của văn hóa loài người, hướng con người tới
cái chân, cái thiện, cái mỹ, sự lành mạnh về thể chất và tâm hồn. Có thể hiểu “phát triển là
trạng thái cho phép chúng ta thỏa mãn những nhu cầu tốt đẹp của con người. Phát triển, suy
cho cùng, chính là sự phát triển những giá trị của con người chứ không phải là tỉ lệ tăng trưởng
kinh tế. Sự phát triển chân chính là những khả năng, năng lực và những thành tựu do con
người tạo ra”. Vì vậy, phải lấy sự hài lòng và niềm tin của người dân làm thước đo cho sự phát
triển.
3. Phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới
CSLL: SMDT là sức mạnh nội lực về KT, VH, KH-KT, SMTD: sức mạnh khách quan, những thuận lợi
chi phối từng giai đoạn. Từ khi Đảng ra đời đã xác định CM VN là bộ phận CM thế giới.
CSTT: Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ ta đã huy động đc sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, sự
ủng hộ của các nước CNXH, dự động viên về mặt vật chất tinh thần của họ.
Thực tiễn gd: Chưa làm tốt. SMDT – nguồn nội lực chưa được phát huy, khủng hoảng KTXH khiến lòng
tin của nhân dân vào đảng và chính phủ giảm sút, không thể huy động khối đại đoàn kết toàn dân. Ta cũng
chưa hòa dịu với thế giới, chưa quốc tế hóa, chưa mở cửa quan hệ với nước ngoài, chưa tháo gỡ được
những nghi kị của các nước với ta.
Vận dụng bài học kinh nghiệm vào chủ trương của Đảng:
- Thực hiện tốt chính sách xã hội, tạo điều kiện cho mọi giai cấp, tầng lớp xã hội phát triển vững mạnh.
- Phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn,
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động
- Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, phát triển kinh tế nông
thôn, xây dựng nông thôn mới
- Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
trong tình hình mới
- Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc,
có chuẩn mực văn hoá, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi
- Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào
dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên, tạo mọi điều kiện để thế hệ trẻ phát triển lành mạnh,
toàn diện, hài hoà cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
- Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của cựu chiến binh, cán bộ công an hưu trí trong xây dựng và
bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa
- Phát huy trí t
SỐ TRANG
0 trang
ĐỊNH DẠNG
PDFLƯỢT THÍCH
0
NĂM PHÁT HÀNH
—
Chọn màu highlight
Ghi chú