Đề cương theo ý chính cuối kỳ [Tư tưởng HCM] - Tư tưởng HCM FTU
Trường Đại học Ngoại Thương - FTU
Tư tưởng Hồ Chí Minh
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Đề cương Tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp cái nhìn tổng quan về quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Người, cùng với các luận điểm chính về độc lập dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc.
Nội dung trích xuất cho SEO
lOMoARcPSD|69091439 ĐỀ CƯƠNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CÂU 1: Quá trình hình thành và phát triển của Tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và nó đã trải qua một quá trình lâu dài thông qua khoảng thời gian tìm tòi, xác lập, phát triển và hoàn thiện, gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng phong phú của Người. – Giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và chí hư
Xem thêm nội dung trích xuất
lOMoARcPSD|69091439
ĐỀ CƯƠNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
CÂU 1: Quá trình hình thành và phát triển của Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và nó đã trải qua một quá trình lâu dài
thông qua khoảng thời gian tìm tòi, xác lập, phát triển và hoàn thiện, gắn liền với quá
trình hoạt động cách mạng phong phú của Người.
– Giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng từ 1890 đến
1911:
Khi còn trẻ, với những đặc điểm quê hương, gia đình và môi trường sống, Hồ Chí
Minh đã tích lũy được những hiểu biết và tạo dựng cho mình nhiều phẩm chất đáng
quý.
– Giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm từ 1911 đến 1920 là giai đoạn bôn ba tìm đường
cứu nước:
+ Hồ Chí Minh đã đi tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới và khảo sát cuộc
sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức.
+ Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin về các vấn đề dân
tộc và thuộc địa, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu
nước, giải phóng dân tộc.
+ Hồ Chí Minh đã chọn con đường đó là đứng hẳn về Quốc tế III, tham gia thành
lập Đảng cộng sản Pháp => bước chuyển biến về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai
cấp, từ người yêu nước thành người cộng sản.
– Giai đoạn hình thành cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam (1921 –
1930):
+ Trong giai đoạn này, chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tích cực trong Ban nghiên
cứu thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp, tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa,
xuất bản báo chí tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thuộc địa.
+ Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị Quốc tế Nông dân và được bầu vào Đoàn chủ tịch
của Hội giữa năm 1923. Sau đó về Quảng Châu (Trung Quốc) tổ chức hội Việt Nam
cách mạng thanh niên, cho ra đời Báo thanh niên, cùng với đó là mở các lớp huấn
luyện chính trị, đào tạo cán bộ, đưa họ về nước hoạt động cuối năm 1924.
+ Tháng 02- 1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức
cộng sản trong nước, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và trực tiếp thảo ra các văn
kiện, đánh dấu cơ bản sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách
mạng của Việt Nam.
– Giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì con đường đã xác định của cách mạng Việt
Nam (1930 – 1941):
Downloaded by Hai Phan Chinh (haiphanchinh34@gmail.com)
lOMoARcPSD|69091439
+ Năm 1936, Đảng ta đề ra chiến sách mới, phê phán những biểu hiện tả khuynh, cô
độc, biệt phái ở giai đoạn trước đây. Từ đây Đảng ta đã trở lại với Chánh cương vắn
tắt, sách lược vắn tắt của Hồ Chí Minh.
+ Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11 năm 1939 cũng đã khẳng định rõ là
cần phải đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao,
tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái
mục đích giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao để mà giải quyết.
+ Từ Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5/1941, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng
Cộng sản Đông Dương khẳng định, trở thành yếu tố chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
– Giai đoạn phát triển và hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh (1941 đến 1969):
+ Hội nghị Trung ương 8 diễn ra vào tháng 5/1941 đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân
tộc cao hơn hết.
+ Sau khi giành được chính quyền và chiến thắng lịch sử vào năm 1945, Đảng ta và
nhân dân ta phải tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vừa xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh giải phóng miền Nam.
+ Trước khi qua đời, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã để lại di chúc, gửi gắm trong đó
những tinh hoa tư tưởng, đạo đức, tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân hiếm có, đã
suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc và toàn nhân loại của Người.
+ Đảng ta và nhân dân ta ngày càng nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn di sản tinh
thần vô giá mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
VII của Đảng ta cũng đã khẳng định rằng Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư
tưởng Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định được vai trò của mình và đây thực sự là
nguồn trí tuệ, nguồn động lực soi sáng và thúc đẩy công cuộc đổi mới phát triển của
toàn đất nước ta.
Downloaded by Hai Phan Chinh (haiphanchinh34@gmail.com)
lOMoARcPSD|69091439
CÂU 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và vận dụng tư tưởng đó
trong công cuộc đổi mới hiện nay.
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc (Đọc giáo trình để note thêm
các ví dụ và thêm ý cho 4 luận điểm in đậm bên dưới nếu như bạn không ghi bài)
- Theo HCM, tất cả các dân tộc sinh ra trên thế giới đều có quyền bình đẳng. Dân tộc
nào cũng có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc.
- Độc lập – Tự do phải là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân tộc
với chân lí “Không có gì quý hơn độc lập – tự do”.
+ Đất nước bị xâm lược đã không biết bao nhiêu lần, song lần nào dân tộc ta cũng
anh dũng đứng lên và chống lại mạnh mẽ. Từ đó ta thấy được tinh thần bất khuất,
lòng yêu nước, yêu tự do độc lập của những người dân Việt Nam, điều đó được coi
như những giá trị thiêng liêng nhất đối với dân tộc mà Hồ Chí Minh là hiện thân
cho những giá trị ấy.
+ Đơn cử từ bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” được viết năm 1919 hay từ
Tuyên ngôn độc lập Mỹ, chính nhân quyền và dân quyền đã được đề cập đến, khẳng
định rõ ràng về tầm quan trọng của nền độc lập tự do.
+ Thông qua bản Tuyên ngôn độc lập của nước VNDCCH, nước Việt Nam có
quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn
thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để
giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.
- Độc lập – Tự do phải là nền độc lập thực sự và hoàn toàn trên tất cả các phương
diện kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa xã hội và toàn vẹn lãnh thổ. Trong đó
quan trọng nhất mà trước hết là chính trị, sau đó là kinh tế.
- Độc lập – Tự do phải đảm bảo được cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Nếu không thì độc lập – tự do chẳng có ý nghĩa gì.
- Độc lập dân tộc phải gắn với chủ quyền lãnh thổ
+ Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một,
sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.
1.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong công cuộc đổi mới
hiện nay.
- Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực
mạnh mẽ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan
điểm giai cấp.
- Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân
tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Downloaded by Hai Phan Chinh (haiphanchinh34@gmail.com)
lOMoARcPSD|69091439
CÂU 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
* Cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam muốn giành được thắng
lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
- Nguyên nhân:
+ Sự thất bại của CMVN cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đã chứng tỏ CMVN theo
đường lối cũ, tức phong kiến tư sản đều không đáp ứng được nhu cầu lịch sử.
+ Hồ Chí Minh đã nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản và nhận thấy chúng đều là
những cuộc cách mạng chưa toàn diện khi mà chính quyền vẫn chỉ nằm trong tay
một số ít người.
+ CMGPDT và CMVS đều có chung kẻ thù là CNĐQ, vậy nên HCM đã lựa chọn
CMVS làm chủ đạo, tiền đề cho CMGPDT sau này. Sau khi tiếp cận chủ nghĩa Mác
– Lênin và nghiên cứu về CMT10 Nga, HCM nhận thấy đây là một cuộc CM triệt
để với chính quyền về tay dân
* Cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam muốn dành được thắng
lợi phải có một chính đảng lãnh đạo và đó là Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên
phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.
- HCM khẳng định vai trò quan trọng của Đảng đối với CM VN: “Cách mệnh trước
hết phải có cái gì, trước hết phải có Đảng cách mệnh để trong thì vận động và tổ chức
dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp khắp mọi nơi.
Đảng có vững cách mệnh mới thành công như người cầm lái có vững thuyền mới
chạy”.
- Đảng cộng sản VN phải được trang bị lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và hoạt động
theo nguyên tắc Đảng kiểu mới.
* Cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam muốn dành được thắng
lợi phải đoàn kết được toàn thể dân tộc trên nền tảng khối liên minh , công nhân,
nông dân, trí thức.
- Cách mạng là sự nghiệp chung của toàn thể nhân dân, không chỉ là công việc riêng
của mỗi cá nhân hay giai cấp. “Dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai cấp”, nghĩa là sĩ
– nông – công – thương đều nhất trí chống lại cường quyền.
- Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò quần chúng nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang:
“Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi.”
- Với lực lượng CM đông đảo, HCM đã khẳng định công nông là gốc, là chủ cách
mạng.
+ Vì đây là lực lượng đông đảo nhất của xã hội
+ Cũng là giai cấp bị áp bức, bóc lột nặng nề và trực tiếp nhất, nên tinh thần cách
mạng của họ sẽ là cao nhất, triệt để nhất
+ Đồng thời họ là giai cấp tay chân không, là những người chẳng còn gì để mất, “nếu
thua họ chỉ mất một kiếp khổ, nếu được họ được cả thế giới”, vậy nên càng nói ý chí
của những con người thuộc tầng lớp công nông càng liều lĩnh và mãnh liệt hơn bất cứ
giai cấp nào khác.
Downloaded by Hai Phan Chinh (haiphanchinh34@gmail.com)
lOMoARcPSD|69091439
* Cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam muốn dành được thắng
lợi phải được thực hiện bằng con đường cách mạng bạo lực . Đó là sự nổi dậy của
toàn thể quần chúng nhân dân lao động trong đó có sự kết hợp của đấu tranh
chính trị và đấu tranh vũ trang, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang.
- Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, CNTBĐQ khi xâm chiếm các nước thuộc địa tư bản,
bản thân đã là hành động bạo lực đối với kẻ yếu của kẻ mạnh.Vì vậy, con đường giành
và giữ chính quyền chỉ có thể là cách mạng bạo lực.
- Tính tất yếu của con đường cách mạng ấy cũng được HCM khẳng định rõ ràng:
“Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại
bảo lwujc phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”.
* Cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam muốn dành được thắng
lợi phải đoàn kết được với các dân tộc thuộc địa, giai cấp vô sản và nhân dân ưa
chuộng hòa bình trên thế giới , cần được tiến hành chủ động sáng tạo, có thể nổ ra
và giành thắng lợi trước CM vô sản ở chính quốc
- Đây là một luận điểm mới và sáng tạo của HCM.
- Vì trong phong trào quốc tế cộng sản đã từng tồn tại quan điểm xem sự thắng lợi của
CM ở nước thuộc địa phải phụ thuộc vào sự thắng lợi của CM vô sản ở chính quốc.
Quan điểm này đã làm giảm tính chủ động, sáng tạo của CM ở nước thuộc địa.
- Theo HCM, CMGPDT và CMVS có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau
trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Đó là quan hệ bình
đẳng, không lệ thuộc hoặc chính phụ.
- Nhận thức rõ sức mạnh của các dân tộc thuộc địa, HCM khẳng định CM thuộc địa có
thể nổ ra và giành thắng lới trước cả CM vô sản ở chính quốc, đồng thời kêu gọi các
dân tộc thuộc địa, kêu gọi giai cấp vô sản và nhân dân yêu hòa bình các nước cùng đấu
tranh, cùng nỗ lực để cách mạng thành công.
Downloaded by Hai Phan Chinh (haiphanchinh34@gmail.com)
lOMoARcPSD|69091439
CÂU 4: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
a) Những đặc trưng bản chất của CNXH
Chế độ xã hội do ndlđ làm chủ: Nhà nước phải phát huy quyền làm chủ của
nhân dân để huy động được tính tích cực và sáng tạo của nhân dân vào sự
nghiệp xây dựng CNXH
Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên llsx hiện đại và chế độ công hữu về các
tlsx chủ lực nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân lao động.
Có nền văn hóa tiên tiến với 3 tiêu chí là dân tộc, khoa học và đại chúng
Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công; được làm theo năng lực và
hưởng lương theo lao động; đồng thời có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và có
điều kiện phát triển cá nhân.
Các dân tộc trong nước đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển
Có mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các nước trên thế giới
CNXH là công trình tập
SỐ TRANG
0 trang
ĐỊNH DẠNG
PDFLƯỢT THÍCH
0
NĂM PHÁT HÀNH
—
Chọn màu highlight
Ghi chú